
Để đảm bảo độ chính xác, tôi đã giữ lại tên lịch sử và cách viết như chú thích gốc.
Ghi chú
Từ
Christoforo Borri’s account of Cochinchina từ 1618-1622 (triều Lê):
Phụ nữ thường đội 5->6 lớp vải trên đầu với các màu sắc khác nhau.
Họ không muốn có bất kỳ bộ phận nào của cơ thể lộ ra và sẽ phải chịu
đựng cái nóng. Mái tóc được nuôi dài, chảy trên vai và thậm chí có thể
chạm mặt đất. Mái tóc dài được coi là xinh đẹp. Phụ nữ thường đội mũ
rộng vành để che khuất khuôn mặt của mình và làm cho họ không thể nhìn
thấy ba hay bốn bước phía trước. Tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi người,
mũ của họ có thể được trang điểm cùng với với lụa và vàng. (Trang 50)

Đàn
ông cũng mặc 5-6 lớp quần áo bằng lụa tốt có màu khác nhau. Tay áo thì
dài và rộng, các lớp từ dây lưng trở xuống được cắt bớt và lởm chởm. Với
tất cả các màu sắc pha trộn với nhau tạo ra một hiệu ứng tương tự như
của một con công khoe các phần màu sắc lông vũ của mình. Những người đàn
ông cũng có tóc dài đến gót chân. Giống như phụ nữ, họ cũng đội mũ rộng
vành. Những người đàn ông có bộ râu là rất hiếm và những người này
không cạo nó. Người đàn ông quý tộc cho phép các móng tay của họ mọc dài
như là một dấu hiệu để phân biệt với tầng lớp lao động. (Hình 52)

Từ
Views of Seventeenth-Century Vietnam: Christoforo Borri on Cochinchina and Samuel Baron on Tonkin
Đông Dương có trang phục với màu sắc giống Trung Quốc, có nghĩa là,
khunh hướng giống màu ô liu: Ý của tôi là những người gần nhất biển, đối
với những người ở trong đất liền, xa như Tonchin, người có nước da
trắng như người châu Âu. Hình dạng khuôn mặt của họ rất giống người
Trung Quốc, mũi tẹt, đôi mắt nhỏ, nhưng có tầm vóc trung bình, không quá
nhỏ như người Nhật, cũng không quá cao như người Trung Quốc. Tuy nhiên,
họ mạnh mẽ hơn và tích cực hơn cả hai, dũng cảm hơn người Trung Quốc,
nhưng thua kém người Nhật một thứ, đó là coi nhẹ tính mạng trong nguy
hiểm và những trận đánh; người Nhật dường như không sợ hãi cái chết
“(Trang 113).

“Nếu người nam chết, thường mặc mười hai áo khoác tốt nhất của mình, nếu một người phụ nữ chết, thì chỉ có chín.” (Pg 265)
Từ Tạp chí
Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin-China), được xuất bản năm 1830 của John Crawfurd:
“Cả hai giới ăn mặc gần như giống nhau hoàn toàn. Đối với phần dưới
của cơ thể, bao gồm một cặp ống quần rộng phùng phình, được cố định bởi
thắt lưng bằng một khăn sạt. Phần chính của trang phục bao gồm hai hoặc
nhiều áo dài rộng, dài xuống đến nửa đùi. Đặc điểm đó, giống với những
người phương Đông khác là thống nhất và không thay đổi, Có tà áo vắt về
phía bên phải, và được cố định bằng năm cái nút và nhiều khâu sắt. Tay
áo rất rộng, và với những người không phải lao động, họ lòng thòng tới
chân, hoặc thậm chí tới chân và quá một nửa chân, vượt quá đầu ngón tay,
Còn cách ăn mặc cấp thấp, vì cần thiết, mặc đồ ngắn hơn “(trang 277).

“Với phụ nữ, váy yếm bên trong dài đến dưới đầu gối, và váy bên ngoài dài tới mắt cá chân.” (Trang 278)
“Tóc của người đứng đầu được để dài, và đưa lên thành một nút ở phía
sau đầu, giống người Trung Quốc làm trước khi trang phục không hợp lệ đã
bị áp đặt lên người Tartar. Cả hai giới đều đội khăn xếp, được đặt lên
bởi bằng sự khéo tay”(Trang 278).

“Những
người ở tầng lớp dưới, chỉ mặc quần áo, hiếm khi đội những chiếc khăn
này lên đầu.” (Trang 278) “Khi ở ngoài, cả hai giới đều mặc mũ rơm màu
véc ni, nhỏ hơn chút ít so với đường kính hai bàn chân, buộc dưới cằm.
Điều này, đôi khi là một trong các hình thức lòng chảo đảo ngược, và
những người khác giống như một ổ bánh đường, tuy nhiên hơi kỳ quái, nó
bảo vệ tốt, chống lại ánh nắng mặt trời và mưa “(Trang 278).

“Các
nguyên liệu của trang phục bao gồm tơ tằm hoặc bông, được sử dụng nhiều
hơn bất kỳ quốc gia nào khác mà tôi thấy. Váy yếm bên trong là bông sản
xuất trong nước, luôn luôn chưa đượctẩy trắng, nghĩa là, nó không phải
là một khăn tay bằng lanh trắng ở vương quốc. Tà bên ngoài và áo choàng,
đối với các cấp bậc cao hơn trong xã hội, thì luôn luôn là bằng lụa,
hoặc gạc hoa, và sau này thường là do Trung Quốc sản xuất. Các ống quần
thì tất cả các tầng lớp hoặc là bằng lụa, hoặc vải trong nước “(Trang
278-279).

“Khăn xếp (khăn đống) luôn có màu đen hoặc màu xanh, và đây cũng là một loại vải trong nước.” (Pg 279)
“Những người thuộc tầng lớp dưới thường được mặc vải cotton, họ ít
dùng lụa. Áo bông cotton của họ được nhuộm một màu nâu sẫm, như rám
nắng. Màu này được tiết xuất từ các gốc củ mà tôi đã đề cập đến”(Trang
279).
“Trang trí bằng các kim loại quý, đá quý, ít xuất hiện. Các phụ nữ
thỉnh thoảng đeo vòng tay bằng vàng. Đá quý được đeo, nhưng sử dụng
thường xuyên nhất là ngọc trai, và hổ phách lấy từ Yu-nan “(Trang 279).

“Những người phụ nữ đeo hoa tai và cột tóc bằng một cây trâm với một cái đầu vàng trang trí.” (Trang 279)
“Người Đông Dương đi những đôi dép không có gót. Nó được chú ý, rằng
trang phục của người Trung Quốcvới đôi bàn chân nhỏ trong số những người
phụ nữ không biết đến Đông Dương” (Trang 279-280).

Từ
những hình ảnh và minh họa mà tôi đã nhìn, có vẻ như là đầu triều
Nguyễn (1802-1945) khăn xếp rất cồng kềnh, do thực tế là vải cần được tự
quấn quanh tóc. Cuối 19 đầu thế kỷ 20, khăn xếp trở nên ít cồng kềnh
và cuối cùng không cần quấn, nhưng có phần vải cứng cho phép người mặc
dễ dàng đưa vào và đội mũ của mình.
Nhưng dù sao điều này có thể là cuối cùng của thông tin đồ họa thời
trang Việt Nam, như tôi hy vọng sẽ nghiên cứu Vương Quốc Champa tiếp
theo.
Song Tử Tây lược dịch (Nguồn: Nancy Dương/lilsuika/Hats and Hair Fashion History: Vietnam)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét